Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các vị:
NGUYỄN HỮU TUYẾT - NGUYỄN HỮU TOẠI - NGUYỄN HỮU CHẤT - NGUYỄN HỮU THANG - NGUYỄN HỮU HÂN
đã có công sưu tập, và
ngày 10-2-1983 (26 Giêng Quý Hợi)
hoàn thành gia phả họ
Nguyễn Hữu, Đồng Ngậu.
Tư liệu trong tập Tộc Phổ này
sao chép từ gia phả gốc nói trên.
Những người biên tập:
NGUYỄN HỮU ĐANG (Đồng Ngậu, Thái Bình)
NGUYỄN HỮU THIỆU (Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh)
“Chim có tổ, người có tông”.
Con người tìm hiểu dòng họ là đi về cội nguồn để tìm hiểu bản thân, cuộc sống. Quốc gia, dân tộc có lịch sử, dòng họ có tộc phả; nhà có gia phả để ghi lại những sự việc quan trọng truyền lại cho con cháu đời sau.
Người xưa cho rằng:
Dục thức tử tôn hưng suy, tiên vấn tiên nhân tác sự;
欲識子孫興衰,須問先人作事;
Dục tri hậu lai tác sự, tu tự kỷ hành vi.
欲知後來作事,自思自己行為。
(Muốn biết con cháu thịnh suy, hãy hỏi người đời trước làm việc ra sao; muốn biết con cháu đời sau làm việc ra sao, hãy tự nghĩ về hành vi của chính mình).
Gia phả nhắc nhở nghĩa vụ phải tự rèn luyện để không làm ô nhục gia phong, là tấm gương giáo dục thế hệ sau.
Ngoài dòng họ cha còn có dòng họ mẹ; các họ thông gia, liên kết chặt chẽ với nhau trong một cộng đồng mật thiết. Hiểu biết cội nguồn mối gắn bó với quê hương, thông cảm với đồng bào đồng loại trên tinh thần “Bốn biển đều là anh em.”
Họ NGUYỄN HỮU ở Đồng Ngậu, xã Quỳnh Giao, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, truyền đến đời chúng tôi là đời thứ 9, thì con cháu phân tán, sinh sống rải rác ở nhiều nơi; trong một gia đình có 5 anh em ở 5 tỉnh khác nhau; nên việc ghi lại gia phả là rất cần thiết. Nếu để đến đời thứ 10 không còn sinh quán ở Đồng Ngậu, Thái Bình nữa, việc sưu tập tư liệu sẽ khó khăn gấp nhiều lần.
Vì thế, dù khả năng hạn chế, tư liệu thiếu thốn, phương tiện trao đổi khó khăn, chúng tôi vẫn cố gắng hoàn thành tập tộc phả này dưới dạng sơ thảo, chắc còn nhiều thiếu sót cần được bổ sung, chỉnh lý dần.
Tộc phả họ NGUYỄN HỮU và các gia phả của các tộc chi, phân chi, trước đây được viết bằng chữ Hán. Năm 1949 chiến tranh lan đến Thái Bình; Pháp đóng quân ở Bến Hiệp và thị trấn Quỳnh Côi cách nhau 5 km; Đồng Ngậu nằm ở khoảng giữa cung đường, năm 1951 được xây dựng thành làng kháng chiến, bị đốt trụi nhiều lần, bom đạn khốc liệt, chẳng còn nhà nào giữ được gia phả.
Hoà bình lập lại năm 1975, các cụ NGUYỄN HỮU TUYẾT, NGUYỄN HỮU TOẠI (CU), các ông NGUYỄN HỮU CHẤT, NGUYỄN HỮU THANG, NGUYỄN HỮU HÂN đã có công sưu tầm, lập họp tư liệu, hoàn thành tập gia phả họ NGUYỄN HỮU bằng chữ quốc ngữ vào ngày 10-2-1983 (26 tháng Giêng Quý Hợi); gia phả hiện để tại nhà ông Trưởng Tộc NGUYỄN HỮU CHẤT.
Khi chúng tôi viết những dòng này, ngoài trừ ông CHẤT, các vị khác đều đã ra người thiên cổ, những việc các vị đã làm mang ý nghĩa văn hoá quan trọng, để lại cho hậu duệ họ NGUYỄN HỮU những tư liệu hết sức quý giá; con cháu Nguyễn Hữu sẽ lưu truyền, gìn giữ và phát triển.
Tộc phả có sử dụng một số từ ngữ Hán Việt được định nghĩa như sau:
Tộc phả 族譜: còn gọi là Gia phả hay Gia phả 家譜 = Sách ghi chép các đời trong họ và lịch sử của tổ tiên (Từ điển Hán Việt Đào Duy Anh).
Tộc chi 族支 = Ngành, Chi nhánh của một dòng họ.
Tộc nhân 族人 = Người trong họ.
Hệ tộc 系族 = Thứ tự của các đời trong một họ (genealogy).
Sơ đồ hệ tộc hình cây 家系圖 (genealogical tree) = Sơ đồ hình cây với thân, cành, nhánh... biểu thị tương quan giữa các đời trong họ.
Tên huý 諱名: Thông lệ xưa kiêng gọi tên các bậc lớn trưởng đã chết. Người chết được đặt tên khác gọi là tên huý, viết trên bài vị để thờ và khấn vái khi cúng lễ.
Tự 字 = Tên chữ, cùng với tên tục và hiệu.
Thí dụ: Tác giả Truyện Kiều, họ NGUYỄN, tên DU, tự là TỐ NHƯ, hiệu là THANH HIỀN.
Ngày kỵ 忌日 = Ngày chết, thường dùng làm ngày giỗ; nhưng cũng có khi còn chia chẵn một ngày khác gọi ngày kỵ làm ngày giỗ.