Tư liệu về toàn họ NGUYỄN HỮU để soạn thảo tộc phả này hiện chỉ thống kê các tộc nhân nam đến hết thế hệ thứ 10; tộc phả gồm 4 phần:
(1) Sơ đồ hệ tộc đến giữa thế kỷ 19 và việc hình thành 7 tộc chi.
(2) Danh sách tộc nhân nam dạng sơ đồ hình cây.
(3) Bảng kê các ngày giỗ, ngày kỵ.
(4) Địa chỉ những người đang sống.
Theo thống kê hiện có, số lượng tộc nhân nam họ NGUYỄN HỮU đến hết thế hệ thứ 10 gồm:
| Thế hệ thứ | Số lượng tộc nhân nam | Trong đó | |
| Đã chết | Hiện đang sống | ||
| 1 đến 3 | 3 người | 3 người |
- |
| 4 | 5 người | 5 người | - |
| 5 | 5 người | 5 người | - |
| 6 | 7 người | 7 người | - |
| 7 | 21 người | 21 người | - |
| 8 | 40 người | 39 người | 1 người |
| 9 | 70 người | 36 người | 34 người |
| 10 | 110 người | 23 người | 87 người |
| Cộng | 261 người | 139 người | 122 người |
Tư liệu về họ NGUYỄN HỮU trong 5 đời đầu tiên còn lại rất ít. Theo sách gia phả chữ Hán (tài liệu này nay không còn) được cụ TUYẾT dịch ra quốc ngữ, về tên tộc nhân các đời này cũng chỉ có tên chữ (tự), tên húy hoặc tên gọi hằng ngày (cụ Lý Nhiều, cụ Trùm...).
Chỉ đến đời thứ 6, vào khoảng giữa thế kỷ 19, mới rõ nét việc hình thành 7 tộc chi và sang đời thứ 7 phát triển thành 21 phân chi.
Vì vậy, chúng tôi chọn thế hệ 6 làm gốc cho hệ thống mã số, dùng 7 chữ A, B, C, D, E, F, G phân biệt 7 chi, và vẽ sơ đồ biểu thị quan hệ họ hàng cho đến hết đời thứ 7 nhằm minh hoạ việc hình thành 7 tộc chi, theo dạng sơ đồ tổ chức.
Theo cách này, họ tên và mã số mỗi người trong họ được đóng khung trong hộp tên hình chữ nhật. Nhiều anh em cùng cha hợp thành nhóm.
Danh sách tộc nhân (nam) theo dạng sơ đồ hình cây:
a. Về niên đại:
Do thiếu tư liệu chính xác, chúng tôi ước tính theo cách lấy thế hệ 8 làm chuẩn để tính, mỗi thế hệ cách nhau 25 năm với sai số ± 30 năm. Phần đông các cụ đời thứ 8 đều có năm sinh khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, chúng tôi lấy 1900 làm niên đại cho thế hệ 8, từ đó tính ra các thế hệ khác.
Sai số 30 năm được chọn căn cứ vào thực tế: chênh lệch niên đại mỗi thế hệ càng về sau càng lớn. Lấy thí dụ: ông NGUYỄN HỮU THANG đời thứ 10 (niên đại 1950) sinh năm 1930 (1950 - 20), ông HÂN sinh năm 1934 (1950 - 16), trong khi một số đông những người khác thuộc thế hệ 10 có năm sinh sau 1975 (1950 + 25), chênh lệch gần 50 năm (!).
Do vậy, niên đại ghi trên sơ đồ mang tính khái quát, chỉ để tiện tham khảo.
b. Họ tên, và cách xưng hô:
Trong tộc phả NGUYỄN HỮU, từ đời thứ 1 đến đời thứ 5 thường chỉ biết tên tự hay tên huý (Ngộ Đạo, Phúc Thực, Phúc Chiểu, Phúc Khiêm v.v...). Trong việc biên tập tộc phả, nếu không biết tên lúc sống, chúng tôi ghi tên tự, tên huý; trường hợp không rõ tên ghi Khuyết Danh hay “KD” đi kèm mã số.
Theo cách chép chính sử, chỉ dùng họ tên không có mạo từ nhân xưng cụ, ông... đứng trước. Khi nói LÊ LỢI, NGUYỄN HUỆ... không phải chúng ta bất kính với tiền nhân, nhưng vì cách xưng hô đó thuận tiện, tránh được những sai lầm không đáng có do hạn chế của ngôn ngữ
c. Hệ thống mã số tộc nhân:
Để việc ghi chép, tra cứu và xử lý thông tin được dễ dàng, chính xác, tránh nhầm lẫn do trùng tên, mỗi thành viên trong họ mang một mã số xác định vị trí, ngôi thứ của người đó. Nguyên tắc chung về phương pháp ghi mã số tương tự cách đánh số các chương, mục trong một bản văn, dùng con số chỉ thế hệ kết hợp với số chỉ ngôi thứ trong gia đình (con trưởng: số 1, các con kế tiếp: số 2, 3, 4...).
Trong tộc phả NGUYỄN HỮU, 3 thế hệ đầu, mỗi đời chỉ có một tộc nhân nên mã số các đời này chỉ gồm một con số (chỉ thế hệ). Mã số tộc nhân thế hệ 4 gồm 2 con số, thế hệ 5: 3 con số.
Như đã nói trong mục D1 ở trên, thế hệ 6 được chọn làm gốc cho hệ mã số. Mỗi mã số tộc nhân gồm nhiều ký tự, chia làm 2 phần chính.
Phần đầu chỉ thế hệ gồm một con số hoặc tập hợp chữ và số:
◊ Một con số (1, 2, 3...9) dùng chỉ thế hệ từ 1 (cụ Tổ Sơn Đồng) đến thế hệ 9.
◊ Chữ X: dùng cho thế hệ 10; X1, X2... dùng cho các thế hệ 11, 12,...
Phần chính của mã số, tiếp sau phần chỉ thế hệ, gồm: một chữ (A, B,..., G) chỉ tộc chi đời thứ 6 và (x-6) con số Ix: số chỉ thế hệ của người mang mã số). Con số tiếp ngay sau chữ A, B, C... là mã số đời thứ 7, và cứ thế tiếp tục cho đến con số cuối cùng bên phải là ngôi thứ của bản thân người mang mã số.
Phần phụ gồm một chữ đứng sau cùng: chữ Q chỉ con gái. Con dâu mang mã số của chồng thêm chữ P, con rể mang mã số của vợ thêm chữ R.
Bảng kê các ngày giỗ, ngày kỵ:
là danh sách những tộc nhân đã qua đời. Năm sinh, năm chết của các tộc nhân từ thế hệ 7 về trước hoàn toàn không biết. Từ thế hệ 8 về sau, tuy có cơ sở thực tế hơn, nhưng niên hiệu ghi trong bảng kê cũng chỉ là phỏng đoán. Chữ “U” ghi sau năm sinh biểu thị năm ước đoán.
Địa chỉ những người đang sống:
Danh sách này mới chỉ liệt kê đến thế hệ 10. Thế hệ 11 hiện đã khá đông, và cả thế hệ 12 nữa, cần được cập nhật và bổ sung dần.
Trong khi chờ có một nhà thờ họ tập trung và người được họ chính thức chỉ định để biên lập và cập nhật tộc phả, các ngày giỗ của người đã khuất, và địa chỉ người hiện sống được để trống, mỗi gia đình tùy nghi ghi thêm theo yêu cầu.
Do hoàn cảnh hạn chế, tư liệu để biên tập chủ yếu dựa vào trí nhớ và kỷ niệm mờ nhạt, nên chắc chắn tập gia phả này còn nhiều thiếu sót. Mong các tộc nhân hiện nay và các thế hệ kế tiếp sẽ góp sức bổ sung và chỉnh lý.
Xin hồn thiêng tổ tông phù hộ con cháu dù ở đâu vẫn giữ được nếp nhà, tiếp nối truyền thống chân chính đã mềm, cần cù, chịu khó, vượt lên số phận tạo lập cuộc sống ngày một vui tươi thịnh vượng, góp phần xây dựng quê hương và đất nước giàu mạnh.
NHỮNG NGƯỜI BIÊN TẬP
NGUYỄN HỮU ĐANG (tháng 12-1997)
NGUYỄN HỮU THIỆU (tháng 12-1998)